Một bình màu trắng có thể xuất hiện ở cả phần quà lẻ và bộ bình–dù. Chỉ ghi tổng số bình chưa cho biết chiếc nào đi với hộp nào. Bảng quy cách quà tặng cần một mã riêng cho mỗi cấu hình, gắn với danh sách món, logo và bao bì.
Thông tin dài như bản vẽ hoặc cách xếp khay có thể đặt trong tài liệu đi kèm, với mã đối chiếu rõ. Trường chưa chốt ghi “chờ xác nhận” và người phản hồi; tránh để ô trống bị hiểu thành không có yêu cầu.

Xem các trường cần ghi trong bảng hoặc đi thẳng tới cách gắn bảng với bản duyệt.
Tách cấu hình trước khi đặt mã dòng
Một dòng đại diện cho một phần quà có thể phân biệt và đối chiếu khi bàn giao. Nếu hai nhóm nhận khác màu, khác món, khác nội dung in hoặc khác cách đóng hộp, cần có cách nhận diện riêng. Có thể tách dòng hoặc thêm mã biến thể dưới cùng một nhóm, miễn là số lượng và tài liệu đi kèm không bị gộp mơ hồ.
Ví dụ, bộ bình–dù và bộ bình–quạt đều có hai món chính, nhưng dùng hai danh sách thành phần và hai cách bố trí khay. Đặt mã nội bộ Q01 và Q02 giúp trao đổi từng bộ. Đây là mã dòng do bên mua tự đặt để quản lý chương trình, không thay thế mã sản phẩm của nhà cung cấp.

Trong mỗi cấu hình, ghi một danh sách thành phần: món chính, phụ kiện cần giao, hộp, khay và tài liệu đi cùng. Với món có nắp, dây hoặc bao riêng, làm rõ phần nào thuộc sản phẩm và phần nào được cấp thêm. Khi một bộ phận đã được tính trong mã sản phẩm, không cộng thành món mua thêm lần nữa.
Ngày hoặc địa điểm giao khác nhau có thể quản lý ở bảng phân bổ riêng nếu cấu hình không đổi. Dùng mã dòng để nối hai bảng, thay vì sao chép quy cách sang nhiều nơi rồi phải sửa từng bản. Nếu còn chọn dòng quà theo người nhận, nên duyệt các nhóm quà tặng doanh nghiệp tại GiftCorp trước khi khóa danh sách mã.
Mẫu bảng quy cách quà tặng cần những thông tin nào?
Bảng tổng hợp nên trả lời được ba việc: đang đặt cấu hình nào, phải đối chiếu với tài liệu nào và còn điểm gì chưa được xác nhận. Khung dưới đây là cách tổ chức biên tập để điền theo đơn, không phải một tiêu chuẩn hay biểu mẫu bắt buộc của GiftCorp.
Vuốt ngang để xem đủ bảng.
| Nhóm trường | Nội dung cần ghi | Căn cứ hoặc câu hỏi đi kèm |
|---|---|---|
| Mã và cấu hình | Mã dòng nội bộ; mã sản phẩm và biến thể; tên cấu hình dễ nhận biết | Link/mã catalog đúng mẫu; màu hoặc phiên bản cần đặt |
| Đơn vị và số lượng | Bộ, chiếc hoặc đơn vị đã thống nhất; số lượng từng dòng | “Một bộ” gồm những gì? Tổng món đã khớp số bộ chưa? |
| Thành phần | Danh sách món và số lượng mỗi món trong một cấu hình | Mã bảng thành phần; phụ kiện nào đã nằm trong sản phẩm? |

| Nhóm trường | Nội dung cần ghi | Căn cứ hoặc câu hỏi đi kèm |
|---|---|---|
| Thông số | Thuộc tính cần kiểm, giá trị, đơn vị và điều kiện đo nếu cần | Nguồn đúng model; số đo mẫu hoặc xác nhận kỹ thuật |
| Nhận diện | File logo, nội dung chữ, mặt/vùng in, kích thước và bản bố trí | Tên file và phiên bản bản duyệt gắn với từng món |
| Bao bì và giao nhận | Hộp, khay, thiệp, cách chia kiện và mã liên kết phân bổ | Bản xếp đủ bộ; quy cách kiện và nhãn đã thống nhất |
| Trạng thái | Phiên bản bảng; phần đã duyệt/chờ; người xác nhận và ngày | Liên kết mẫu chuẩn, phản hồi hoặc tài liệu còn thiếu |
Không cần nhét toàn bộ thông số vào một ô. Chẳng hạn, cột thành phần ghi “theo bảng Q02-TP phiên bản 01”; bảng phụ mới liệt kê bình, quạt và phần đi cùng. Người nhận hồ sơ phải mở được tài liệu đó và nhận ra nó thuộc Q02, không phải một bộ có hình gần giống.
Thư mời chào giá quà tặng công khai của Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương đặt đơn vị, số lượng bên cạnh mô tả từng hạng mục. Phần ly sứ còn nêu cốc, nắp, hộp và cách đóng thùng. Đây là ví dụ về mức mô tả cụ thể, không phải quy cách để áp sang đơn GiftCorp.
Ghi thông số có nguồn, giữ riêng màu và model
Với mỗi giá trị quan trọng, ghi rõ nó là yêu cầu bên mua, thông tin catalog, kết quả đo mẫu hay nội dung đã được nhà cung cấp xác nhận. Bốn trạng thái này không thay thế nhau. “Muốn bình 500 ml” là đầu vào lựa chọn; chưa có mã và tài liệu khớp thì chưa thành thông số của hàng sẽ giao.
Số đo phải có đơn vị và mô tả chiều đo. Kích thước ngoài của sản phẩm khác kích thước sử dụng bên trong; kích thước hộp khác phần trống trong khay. Với màu, dùng tên/mã biến thể và mẫu đối chiếu phù hợp. Không lấy ánh sáng trong ảnh làm căn cứ duy nhất để xác nhận màu thực tế.

Hai bình trắng và xanh trong cùng một hộp vẫn cần ghi riêng màu cùng số món mỗi màu. Bên mua cũng nên hỏi liệu hai màu có dùng cùng model và cấu tạo không. Dáng nhìn tương tự chưa đủ để chuyển một thông số từ bình này sang bình kia.

Hai mẫu dưới đây giúp phân biệt mã bộ và mã món lẻ. Catalog GiftCorp hiện có bộ GS-06 gồm dù gấp và bình giữ nhiệt, còn BGN-04 được niêm yết là bình trắng dung tích 500 ml. Không vì thấy bình trắng trong ảnh bộ mà ghi ngay “GS-06 dùng BGN-04”; cần hỏi đúng mã bình trong cấu hình GS-06.

Ghi mã bộ GS-06 rồi yêu cầu xác nhận mã từng món; ảnh bộ không tự xác nhận bình là BGN-04.

Catalog niêm yết 500 ml; cần thông số và xác nhận đúng model nếu đây là thuộc tính phải kiểm của đơn.
Nếu tài liệu model chưa có một thuộc tính cần dùng, ghi câu hỏi cụ thể vào phần chờ: “đề nghị xác nhận mã bình, dung tích và nguồn thông số”. Với dung sai hoặc phép thử công năng, chỉ ghi giá trị và phương pháp đã được thống nhất cho mẫu đó. Không tự đặt một mức sai số chung cho mọi quà tặng.
Đối chiếu số bộ với số món từng loại
Ghi số bộ ở bảng tổng hợp và số món trong một bộ ở bảng thành phần. Tổng món của mỗi loại bằng số bộ của cấu hình nhân số món cùng loại trong cấu hình đó; nếu một món xuất hiện ở nhiều cấu hình, cộng theo từng dòng. Cách này giúp phát hiện việc lấy “100 bộ” thành “100 chiếc” dù mỗi bộ có nhiều chiếc cùng loại.

Ví dụ tính giả định: chương trình đặt 100 bộ Q01, mỗi bộ có một bình và một dù; thêm 30 bộ Q03, mỗi bộ có một bình và sáu ly. Bảng dưới chỉ minh họa phép tính, không đại diện đơn hàng, báo giá hay cấu hình GS-06.
Vuốt ngang để xem đủ bảng.
| Mã dòng | Số bộ | Bình | Dù | Ly |
|---|---|---|---|---|
| Q01: 1 bình + 1 dù | 100 | 100 × 1 = 100 | 100 × 1 = 100 | 0 |
| Q03: 1 bình + 6 ly | 30 | 30 × 1 = 30 | 0 | 30 × 6 = 180 |
| Tổng cần phân bổ | 130 | 130 | 100 | 180 |
Tổng 130 bình chỉ gộp được thành một yêu cầu mua khi chúng thực sự cùng mã, màu và cấu hình. Nếu bình ở Q01 và Q03 khác nhau, phải tách tổng theo từng biến thể. Tương tự, hai bộ cùng loại ly nhưng dùng nội dung in khác nhau vẫn cần quản lý số lượng theo phiên bản nhận diện.
Phần dự phòng, hàng thử hoặc hàng cấp bù nên ghi thành dòng có mục đích riêng; không cộng âm thầm vào số quà dành cho người nhận. Khi số lượng thay đổi, tính lại cả món, hộp, thiệp và cách chia kiện. Nếu thay đổi làm khác phạm vi chi, đối chiếu phần đã/chưa gồm trong ngân sách quà tặng.
Gắn phiên bản logo với từng món và từng mặt
“In logo công ty” chưa đủ cho đơn có nhiều mẫu. Một file gốc có thể được dùng trên bình, vải dù và nắp hộp, nhưng mỗi bề mặt cần một bản bố trí phù hợp. Trong bảng thành phần, ghi file artwork, phiên bản, nội dung chữ, mặt hoặc vùng in, chiều rộng/cao nếu đã chốt và mã bản duyệt tương ứng.
Điểm mốc giúp diễn đạt vị trí rõ hơn: hướng đọc so với quai hoặc nắp, mặt trước/mặt sau, ô tán nào của dù, mặt nắp hay cạnh hộp. Vị trí cần chính xác thì dùng bản vẽ hoặc mẫu thể hiện mốc và khoảng cách đã xác nhận. Không đo theo tỷ lệ trên ảnh phối cảnh rồi đưa thành số đo sản xuất.
Hướng dẫn Design Maker của Printful cũng phân biệt vùng đặt thiết kế và yêu cầu file theo sản phẩm, kỹ thuật. Điểm tham khảo ở đây là gắn artwork với đúng bề mặt; không dùng định dạng hay vùng in của Printful làm quy định cho mẫu GiftCorp.
Có thể ghi “Q01-BINH / artwork phiên bản 02 / bản bố trí Q01-BINH-MK02”, rồi dẫn đến đúng tài liệu. Nếu chỉ sửa ngày sự kiện trên hộp, phần sản phẩm chưa chắc phải đổi artwork, nhưng bản hộp cần được nhận diện lại. Người thiết kế và người đóng bộ đều phải thấy phần nào đổi, phần nào giữ.
Khi chưa thống nhất bố cục trên từng bề mặt, xử lý phần đó trong quy trình thiết kế logo trên quà tặng trước. Bảng quy cách ghi lại quyết định đã có căn cứ, không thay công việc thiết kế hoặc việc xem kết quả trên mẫu.
Ghi riêng hộp quà, khay và kiện vận chuyển
Hộp quà xác định cách trao một phần quà; khay giữ xác định cách đặt và giữ từng món; kiện vận chuyển xác định số phần quà được gom để giao. Cả ba lớp cần khớp cấu hình, nhưng không dùng chung một cột “hộp” nếu người đọc có thể hiểu khác nhau.

- Hộp quà: mã hộp, kiểu, màu, kích thước có nguồn và nhận diện trên từng mặt; thiệp/túi đi kèm nếu có.
- Khay: mã bản xếp, từng vị trí chứa món, hướng đặt và phần chèn; xác nhận bằng đủ cấu hình thực tế khi độ vừa là yêu cầu quan trọng.
- Kiện: mã cấu hình, số bộ trong kiện, cách xử lý kiện cuối không đủ số chuẩn, thông tin nhãn và bảng phân bổ điểm giao.
Ví dụ ghi quy cách kiện theo dạng “Q01: [số bộ]/kiện; kiện cuối: [số bộ]; tổng [số kiện]”. Đây là các ô cần điền sau khi thống nhất đóng gói, không suy số bộ trong kiện từ ảnh nhiều hộp xếp cạnh nhau. Với kiện trộn nhiều cấu hình, nhãn cần nêu số lượng từng mã bên trong.
Đổi món hoặc màu có thể làm thay đổi kích thước, độ vừa khay và cách nhận diện bộ. Vì vậy, dòng mới phải dẫn tới bản xếp mới hoặc xác nhận bản hiện tại còn phù hợp. Ảnh mặt ngoài hộp không chứng minh đủ món, độ giữ của khay hoặc khả năng bảo vệ khi giao xa.
Khóa một phiên bản dùng chung và gắn với mẫu duyệt
Bộ hồ sơ dùng chung gồm bảng tổng hợp, bảng thành phần, thông số có nguồn, artwork, bản xếp hộp và tài liệu duyệt. Ghép đủ các phần trước khi gửi triển khai. Đặt phiên bản bảng cùng ngày cập nhật; các tài liệu đi kèm có thể giữ phiên bản riêng nhưng phải được liệt kê rõ trong bản tổng hợp.

- Kiểm từng dòng có mã, đơn vị, số lượng và danh sách thành phần mở được.
- Đối chiếu tổng món theo biến thể, rồi so với số hộp/thiệp và phần dự phòng nếu có.
- Gắn từng món với đúng file, bản bố trí và mẫu chuẩn hoặc căn cứ duyệt; phân biệt nội dung đã xem với nội dung còn chờ.
- Ghi người xác nhận, ngày và phần được duyệt. Nếu một thuộc tính chưa rõ, nêu câu hỏi, người xử lý và mốc phản hồi.
- Phát hành một phiên bản để dùng; giữ bản cũ trong lịch sử và ghi đã thay thế. Khi sửa, liệt kê dòng/cấu phần bị tác động và yêu cầu xác nhận lại phần cần thiết.
Không ghi “đã duyệt toàn bộ” chỉ vì nhận được một tin nhắn đồng ý với ảnh phối cảnh. Có thể đã duyệt nội dung chữ nhưng còn chờ màu thực tế hoặc độ vừa hộp. Trạng thái theo từng phần giúp bước tiếp theo nhìn thấy đúng việc phải làm.
Bảng quy cách hoàn chỉnh trở thành đầu vào để trao đổi tiêu chí kiểm soát chất lượng theo mẫu đã duyệt. Phạm vi kiểm, cách lấy mẫu hay phép thử cần thống nhất riêng; bảng không tự tạo một cam kết chất lượng hoặc xác nhận mọi công năng.
Khi trao đổi với GiftCorp, gửi bảng cùng các tài liệu đã có và đánh dấu phần còn chờ. Nêu rõ số lượng từng cấu hình, ngày cần nhận và yêu cầu không thể thay đổi để hai bên xác nhận thông tin theo từng dòng.
